quần áo, khoác áo tơi lá, chào ông lão chèo đò, nối nhau bước lên bờ. Trời vẫn rả rích mưa, khoác tơi lá mà đi vào xóm thật hợp thời Tư-dát nhìn trước nhìn sau không thấy ai, nói nhỏ với các bạn- – ước chi có tê-lê-phôn, quay lên Xê-ca báo cho tụi trên đó biết: Ba thằng mình đã đổ bộ an toàn lên Huế.
Anh đồng-râu dẫn ba đứa đi men theo con đường đất pha cát ven sông, rẽ vào một đường kiệt hai bên hàng rào dâm bụt mọc cao quá đầu- Xóm vắng tanh- Bốn người dừng lại- Một nếp nhà tranh nằm sâu giữa một khu vườn xum xuê cây ăn trái: mãng cầu, chanh, bưởi, ổi, thanh trà. Xung quanh vườn cây kín hàng rào chè tàu cao quá đầu ba đứa. Cổng ngõ đóng kín bằng cánh cửa tre ken dày những cành tre gai.
Anh Ðồng-râu nhón chân nhìn qua hàng rào và gọi nhỏ:
- O ơi, o! O ơi!
- Chớ ai gọi chi ngoài đó rứa? – Trong nhà có tiếng bà già hỏi vọng ra.
- Cháu đây o ơi! Thằng Ðồng đây mà o. Tiếng bước chân tất tưởi chạy ra- Cánh cổng tre hé mở- Trước mắt bọn trẻ là một bà già trạc sáu mươi. Tóc bà mới đốm bạc, chải gọn ghẽ, búi thành lọn sau gáy- Mắt bà tinh anh và lưng thẳng như lưng con gái- Anh đồng-râu kêu “O-” còn ba đứa lễ phép chào “chào mệ ạ?”.
Bà già cứ đứng trân trân nhìn “bốn cha con, rồi bất chợt kêu lên giọng vừa mừng vừa lo:
- Ủi chao! chớ tụi bay về đây khi mô rứa?
- VÔ trong nhà cái đã rồi cháu sẽ thưa chuyện với O.
Anh đồng-râu quay lại giục ba đứa. – VÔ nhà cả đi, mấy em vô nhà cả đi!
Trong lúc mảy “cha con” đi vô nhà thi bà o, bước ra đường ngó ngược ngó xuôi, rồi mới trở vô đóng cánh cổng cài thật chắc.
Trong nhà chẳng có đồ đạc gì nhiều. Một bộ phản mọt, cái chõng tre để bộ ấm chén, cây đèn dầu hỏa, mấy cái ghế đẩu- Chính giữa gian giữa, trên cao treo cái trang thờ Phật buông tấm màn vải điều, thoang thoảng mùi trầm hương- Chái nhà bên phải là gian buồng ngăn bằng liếp tre đan, cánh cửa cũng bằng tre, khép hờ.
Bà o bước vào nhà, hết nhìn anh Ðồng-râu lại nhìn ba đứa như vẫn chưa hết sửng sờ ngạc nhiên. Bà ngồi xuống phản, nói mà miệng hơi mếu:
- Rứa mà o cứ tưởng chẳng còn khi mô được gặp lại tụi bay nữa. Tây hắn thả truyền đơn nói là đã giết sạch các tụi bay rồi, xương cốt Vệ Quốc đoàn chừ đã mục hết trên núi xanh. Ngó chỗ tụi bay mà o cứ tưởng nằm mê- Anh đồng-râu cười:
- Miệng Tây đít trẻ còn lạ chi o ơi!
Tư dát ngồi im từ nãy đến giừ đã thấy ngứa miệng Gặp dịp liền nói leo vô:
- Mệ ơi, xương cốt tụi cháu sắt nguội còn thua, dễ chi mục được mệ? Tụi cháu về đây là cốt để dần cho tụi Tây mục xương, để mệ coi cho sướng chơi. – Bà o đang mếu phải phì cười:
- được rứa thì mệ vật ngay con heo trong chuồng tê bà chỉ xuống phía bếp. – Mệ khao tụi bay ngay.
Tối hôm đó bà cho “bốn cha con” ăn một bữa cơm khá thịnh soạn- Những món ăn mà mỗi người dân Huế, dù đi đến cuối đất cùng trời, nếm đủ cao lương mỹ vị cũng không thể nào quên được. Cá bống thệ kho khô, rắc hạt tiêu, thịt heo ba chỉ luộc chấm tôm chua, canh cá tràu nấu dưa chua, chao.
đã lâu lấm mới ăn được một bữa cơm ngon miệng đến vậ...